Thông tin du học “Nhật”

         Thủ đô: Tokyo

         Diện tích: 379,954 km².

         Dân số: 126,804.433  (2010)

 GDP: 4,338 tỷ $ (2010)

Tập đoàn nổi bật:  Honda, Sony, Mitsubishi, Toyota...

 Đơn vị tiền tệ: Yên Nhật (JPY)

Các thành phố lớn: Tokyo, Fukuoka, Hiroshima, Kawasaki, Kyoto, Nagoya, Osaka…

 

 Địa hình

Nhật là một quốc gia của núi. Dù nhỏ hơn bang California của Mỹ, 67% địa hình của Nhật là núi, chỉ có 13% địa hình là đồng bằng. Các dòng sông bắt nguồn từ những địa hình núi đó tạo ra nhiều thung lũng và làm cho địa hình biến đổi rất phong phú.

Ở các cửa sông, các đồng bằng hình cánh quạt được tạo ra nhưng trừ các đồng bằng Kanto (Quan Đông), đồng bằng Osaka, đồng bằng Nobi ra, tất cả đều là đồng bằng nhỏ. Bờ biển Nhật Bản cực kì dài, khoảng 34 nghìn km. Sự phức tạp trong việc hình thành bờ biển làm cho phong cảnh trở nên đẹp một cách hùng vĩ từ vùng này tới vùng khác.

 

 Khí hậu

Đặc điểm lớn nhất của khí hậu Nhật Bản là có bốn muà Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt.

Nhiệt độ mùa đông và mùa hạ chênh nhau tới trên 30 độ. Vào mùa hạ, với nhiệt độ và độ ẩm cao làm cho những người từ đại lục thấy khó chịu. Vào mùa xuân và mùa thu khí hậu rất thoải mái dễ chịu nhưng thời tiết cũng thường thay đổi.

Vào đầu mùa hạ, ngoại trừ Hokkaido ra, có mưa nhiều từ tháng Sáu đến giữa tháng Bảy. Mùa thu cũng tương đối có nhiều mưa. Hơn nữa từ giữa mùa hạ đến đầu mùa thu, có nhiều bão phát sinh ở vùng phía tây của Bắc Thái Bình Dương đổ bộ vào Nhật Bản, đôi khi gây ra nhiều thiệt hạị

Ngoài ra các dãy núi chạy dọc chiều dài Nhật Bản phân chia đất nước thành hai phần: phần biển Nhật Bản và phần Bắc Thái Bình Dương. Vào mùa đông phần biển Nhật Bản có nhiều tuyết rơi cũng là một đặc điểm của khí hậu Nhật Bản.

 

 Tôn giáo

Nhật Bản là nước có nhiều tôn giáoThần đạo, tôn giáo lâu đời nhất ở Nhật Bản, là sự phức hợp của những tín ngưỡng sơ khai ở Đông Á. Thần đạo có các vị thần được gọi là 'kami' có thể ban phúc lành, chẳng hạn như một cuộc hôn nhân. Vào thế kỉ thứ 6Phật giáo hệ phái Bắc Tông du nhập vào Nhật Bản qua Triều Tiên.

Nghệ thuật và kiến trúc tinh tế của đạo Phật khiến cho tôn giáo này thu hút được sự quan tâm của triều đình lúc đó và Phật giáo trở thành quốc giáo của Nhật Bản. Đạo Phật nhanh chóng được truyền bá khắp Nhật Bản và nhiều tông phái Phật giáo đã ra đời và phát triển, trong đó nổi tiếng nhất ở phương Tây là Thiền tông (Zen). 

Thiên chúa giáo do người Bồ Đào Nha du nhập vào Nhật Bản năm 1549 và được khá nhiều người Nhật tin theo. Ngày nay ở Nhật không có một tôn giáo nào nổi trội và trên thực tế, có nhiều người Nhật cùng lúc tin theo nhiều tôn giáo khác nhau.

Nhưng Phật giáo vẫn được xem là quốc giáo của Nhật Bản với khoảng 90 triệu tín đồ và ảnh hưởng của nó vô cùng to lớn, sâu sắc vào mọi mặt trong văn hóaxã hội và lối sống của người Nhật.

 

 Kinh tế

Kinh tế Nhật Bản là một nền kinh tế thị trường phát triển. Quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP với tỷ giá thị trường lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, còn theo thước đo GDP ngang giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc.

 


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

1. Tổng quan

Nhắc đến Nhật Bản chúng ta không thể không nhắc đến xứ sở hoa anh đào và ngọn núi Phú Sỹ nổi tiếng.

Nhật Bản hiện nay được coi là vùng đất mở với nền kinh tế thị trường phát triển vượt bậc. Quy mô nền kinh tế này theo thước đo GDP với tỷ giá thị trường lớn thứ hai trên thế giới sau Mỹ, còn theo thước đo GDP ngang giá sức mua lớn thứ ba sau Mỹ và Trung Quốc.

Là một nước rất nghèo nàn về tài nguyên trong khi dân số quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong Đệ nhị thế chiến, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945 - 1954), tăng trưởng cao (1955 - 1973). Từ 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại song Nhật Bản tiếp tục là một nước có tiềm năng lớn thứ 2 trên thế giới về kinh tế, khoa học kĩ thuật và tài chính.

 Ngày nay trào lưu du học đang lan tỏa thành một làn sóng mạnh mẽ trong cộng đồng những người Việt trẻ. Số lượng du học sinh Việt Nam đang học tại  Nhật Bản đang ngày càng tăng cao, hiện có tổng cộng 3.597 sinh viên Việt học ở đất nước hoa anh đào, tăng 12,4% so với năm 2009. Nhật Bản đã trở thành một lựa chọn lý tưởng cho các bạn trẻ Việt Nam khi có ý định du học nước ngoài bởi ngoài nét văn hóa khá tương đồng thì Nhât Bản có nền giáo dục tiên tiến, chất lượng cao nhưng mức học phí , chi phí sinh hoạt lại tương đối rẻ hơn so với các nước khác như Mỹ, Anh... 

 

3. Đời sống văn hoá

3.1. Văn hóa và quan điểm sống

Đối với người Nhật Bản, hoa anh đào không chỉ tượng trưng cho vẻ đẹp thanh cao mà còn là nỗi buồn về sự ngắn ngủi, phù du và tính khiêm nhường, nhẫn nhịn. Cây hoa anh đào đem tặng được xem như biểu tượng hòa bình của nước Nhật với các nước khác trên thế giới.

Hoa anh đào mọc ở Triều Tiên và Mỹ không có mùi hương. Trong khi đó, ở Nhật Bản, người ta ngợi ca hương thơm của hoa anh đào trong những vần thơ. Hoa anh đào nở báo hiệu mùa xuân đến. Suốt tuần lễ thứ hai của tháng Tư, lễ hội hoa anh đào được tổ chức khắp nơi đón mùa xuân mới và mọi người tụ tập trong các buổi tiệc ngắm hoa “ohanami” (flower viewing party). Mỗi khi mùa xuân đến, hoa đào như phủ khắp đất nước Nhật Bản. Cả một màu hồng phấn ôm trọn lấy núi đồi, lan tỏa khắp phố phường tượng trưng cho một mùa lãng mạn và đẹp nhất: mùa hoa anh đào.


Lễ hội ngắm hoa anh đào Hanami tại Nhật


Trong giao tiếp truyền thống của người Nhật có những quy tắc, lễ nghi mà mọi người đều phải tuân theo tùy thuộc vào địa vị xã hội, mối quan hệ xã hội của từng người tham gia giao tiếp. Những biểu hiện đầu tiên trong quá trình giao tiếp của người Nhật là thực hiện những nghi thức chào hỏi. Tất cả các lời chào của người Nhật bao giờ cũng phải cúi mình và kiểu cúi chào như thế nào phụ thuộc vào địa vị xã hội, từng mối quan hệ xã hội của mỗi người khi tham gia giao tiếp.

Một quy tắc bất thành văn là “người dưới” bao giờ cũng phải chào “người trên” trước và theo quy định đó thì người lớn tuổi là người trên của người ít tuổi, nam là người trên đối với nữ, thầy là người trên (không phụ thuộc vào tuổi tác, hoàn cảnh), khách là người trên... 

 

3.2. Vận chuyển

Cuộc sống ở Nhật Bản không thể không kể đến tàu điện, phương tiện thông dụng nhất của người dân bởi nó vừa rẻ lại tiện lợi. Tàu điện ở Nhật gồm loại tàu thường và tàu cao tốc. Tàu thường hay còn gọi là tàu 'Local', thường đỗ tại các ga mà nó chạy qua. Khoảng cách các ga trong thành phố chỉ cách nhau khoảng 1km và ngoại ô là khoảng 2,3km. Tàu nhanh và tàu cao tốc thường chỉ dừng lại ở các ga lớn, tiết kiệm thời gian cho những người đi xa, đáp ứng tối đa nhu cầu đi lại của người dân Nhật Bản.

Tàu điện ở Nhật 'cứng nhắc' y như người Nhật về cách bảo đảm giờ giấc luôn chính xác. Ở Nhật, việc đi lại người ta không tính quãng đường mà chỉ quan tâm đến thời gian.

Ở Nhật người ta ít sử dụng xe máy. Hệ thống xe buýt và tàu điện ở Nhật Bản rất phát triển giúp bạn đi tới bất cư nơi đâu bạn muốn trên nước Nhật. Nên bạn chỉ cần mua thêm chiếc xe đạp là tiện lợi nhất. Phần lớn sinh viên ở Nhật sử dụng xe đạp làm phương tiện đi lại.

 

Tàu điện ngầm tại Nhật

 

3.3 Giải trí mua sắm.

Phố mua sắm là cụm từ mà người Nhật dùng để gọi những khu chợ được hình thành từ các cửa hàng nằm san sát nhau hai bên đường. Theo qui định của chính phủ, phố mua sắm phải có từ 30 cửa hàng trở lên mới được cấp phép hoạt động.

Đặc trưng của phố mua sắm ở Nhật Bản là mỗi cửa tiệm kinh doanh một mặt hàng độc lập, nhiều cửa tiệm kết hợp lại với nhau tạo nên sự đa dạng về chủng loại hàng hoá. Phố mua sắm là nơi đáp ứng mọi nhu cầu cần thiết trong cuộc sống hàng ngày của khách hàng, từ rau quả đến thức ăn chế biến sẵn và cả quần áo, giày dép.

Hiện nay, trên khắp nước Nhật có tổng cộng 13.000 khu phố mua sắm lớn nhỏ đang hoạt động. Bên cạnh các khu phố mua sắm ngoài trời, cũng có những khu phố mua sắm được thiết kế mái che để tạo sự thuận lợi, thoải mái cho cả người bán và người mua.

Sau khi đã dạo một vòng quanh phố mua sắm, khách hàng thường cảm thấy đói, lúc này thì các cửa hàng ăn uống là điểm dùng chân của họ. Do diện tích nhỏ hẹp nên cửa hàng ăn không bày biện bàn ghế phục vụ tại chỗ mà chỉ bán các loại thức ăn nhanh.

Phố mua sắm có tên gọi Sunamachi Ginza toạ lạc ngay tại trung tâm thủ đô Tokyo. Phố mua sắm Sunamachi Ginza dài 670 mét, có tổng cộng 180 gian hàng. Đây là một trong những khu phố mua sắm lâu đời ở Nhật.

 

3.4 Ẩm thực

Văn hóa ẩm thực Nhật được biết đến với những món ăn truyền thống, và nghệ thuật trang trí ẩm thực độc đáo. Nhật cũng giống như các nước châu Á khác, xuất phát từ nền nông nghiệp lúa, nên cơm được coi là thành phần chính trong bữa ăn của người Nhật. Ngoài ra cá và hải sản là nguồn cung cấp protein chủ yếu của họ. Người Nhật thường chú ý nhiều đến kiểu cách và rất cầu kỳ trong chế biến thực phẩm. Chính những điều này tạo nên hương vị đặc trưng của các món ăn Nhật như các món ăn sống, hấp, luộc…

“Tam ngũ” là quan niệm của người Nhật trong các món ăn, đó là “Ngũ vị, ngũ sắc, ngũ pháp”.

Ngũ vị bao gồm: ngọt, chua, cay, đắng, mặn

Ngũ sắc có: trắng, vàng, đỏ, xanh, đen

Ngũ pháp có: để sống, ninh, nướng, chiên và hấp.


Ẩm thực truyền thống của người Nhật được thế giới biết đến với các món như: sushi, sashimi, tempura, súp miso, mì Udon, Soba… Các món này được xem như những món đem lại may mắn, hạnh phúc cho người thưởng thức.

Rượu sake là thức uống không thể thiếu khi thưởng thức các món ăn Nhật. Rượu không chỉ làm cuộc vui thêm sôi nổi, thân thiết mà còn giúp cho các món ăn dễ tiêu và tăng thêm hương vị.

 

4. Giáo dục

4.1. Thông tin chung

Đất nước của những bông hoa anh đào rực rỡ vốn có truyền thống hiếu học đã và đang là tâm điểm của sự chú ý đối với các sinh viên từ nhiều nước trến thế giới. Với một lối sống đặc trưng mà không một nơi nào trên thế giới có được, con người Nhật Bản cần cù, chịu khó, lịch sự pha chút rụt rè, rập khuôn nhưng luôn hết mình vì tập thể đã đưa nước Nhật trở thành một cường quốc trong nhiều lĩnh vực.

Chất lượng giáo dục cao, nổi tiếng trên toàn thế giới, đặc biệt trong các ngành khoa học kỹ thuật, kinh tế và các ngành khoa học cơ bản.

Quan hệ giữa Nhật Bản và Việt Nam ngày càng phát triển nên cơ hội quay về làm việc tại Viêt Nam với mức lương cao là rất lớn chưa kể tới cơ hội ở lại làm việc tại Nhật…

Cơ hội làm thêm cho những sinh viên Việt Nam vì Nhật luôn nổi tiếng là một đất nước giàu có và thiếu nhân công.

Người dân Nhật vốn nổi tiếng là thân thiện, nhiệt tình và mến khách, giúp cho các du học sinh dễ dàng hoà nhập với cuộc sống sôi động này.

Nhật bản có nhiều cơ sở giáo dục trình độ cao, là một môi trường sinh hoạt an toàn cho người nước ngoài, và có một nền văn hóa truyền thống lâu đời.

Nhật Bản có đầy đủ các cơ sở giáo dục thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như các ngành lý hóa, công học, nông học, y, nha, văn học, môi trường, kinh doanh, thông tin, phúc lợi, văn hóa, thời trang, phim hoạt hình, âm nhạc, nấu ăn,…bạn sẽ được hấp thụ nền giáo dục đáp ứng được mục đích của bạn.  Sau đây chúng tôi xin giới thiệu các điều kiện để được vào học tại các cơ sở giáo dục này.


Bậc sau đại học (604 trường)

Dành cho người sau khi tốt nghiệp đại học còn muốn hấp thụ thêm các kiến thức chuyên môn nữa. Thời gian học tập gồm các chương trình thạc sỹ từ 2 năm trở lên, chương trình cấp học vị chuyên ngành từ 1 đến 3 năm trở lên, và chương trình tiến sĩ từ 5 năm trở lên.


Đại học (765 trường)

Các trường đại học của Nhật Bản là bậc học có 49% người Nhật theo học, là cơ sở giáo dục bậc đại học và sau đại học phổ biến nhất tại Nhật Bản. Thời gian học tập chính quy là 4 năm, riêng các khoa y, nha, dược, thú y tại một số trường cần 6 năm.


Đại học ngắn hạn (417 trường)

Thông thường đây là các trường đại học có thời gian học tập ngắn hạn gồm 2 năm (có những trường có thời gian học tập là 3 năm, như trường đào tạo y tá), đào tạo các ngành khoa học nhân văn, gia chánh, giáo dục, xã hội.


Trường cao đẳng chuyên nghiệp (64 trường )

Trường cao đẳng chuyên nghiệp là trường dành cho những người đã tốt nhiệp bậc trung học cơ sở. Chương trình học tập trong 5 năm, nhằm mục đích bồi dưỡng kiếm thức và kỹ năng thục tế và chuyên môn cần thiết cho nghề nghiệp. Phần lớn là các chương trình dạy  các nhành công nghệ, nhưng cũng có trường dạy về thương thuyền.


Trường chuyên nghiệp ( 3.401 trường )

Đâ y là các cơ sở giáo dục nhằm mục đích cung cấp các kiến thức và kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết về nghề nghiệp và đời sống hàng ngày. Thời gian học tập thường là 2 năm; tuy nhiên cũng có ngành cần 3 hay 4 năm. Đây là nơi mà các bạn có thể theo học nhiều ngành nghề chuyên môn như trang trí nội thất, họa đồ, du lịch, hoạt hình, trò chơi điện tử,...

 

Đại học Takushoku

 

 

4.2.  Học phí

Hệ thống giáo dục ở Nhật phân chia các trường theo 3 loại hình khác nhau: quốc lập, công lập và dân lập. Học phí theo đó cũng khác nhau. Các trường đại học quốc lập có mức học phí bình quân khoảng 4.500 USD/năm, công lập 5.000 USD/năm, các trường dân lập dao động từ 9.000-35.000 USD/năm (tuỳ ngành). Hệ cao đẳng thấp hơn khoảng 30-40%.

Phần lớn du học sinh đến Nhật phải học thêm tiếng Nhật từ 6-12 tháng trước khi vào học đại học hoặc cao học, mức học phí ở các trường dạy tiếng Nhật bình quân khoảng 3.000 USD (khóa 6 tháng), 6.500 USD (khoá 12 tháng), riêng các khoá từ 1,5-2 năm khoảng 10.000-13.000 USD.


Dưới đây là học phí tham khảo của một số lớp học nhất định 

Khóa 2 năm


Các khoản phí

Năm đầu tiên

Năm tiếp theo

Tổng số

Tiền nhập học

60.000 JPY

-

60.000 JPY

Tiền học phí

600.000 JPY

600.000 JPY

1.200.000 JPY

Các khoản khác

80.000 JPY

-

80.000 JPY

Tổng

740.000 JPY

600.000 JPY

1.340.000 JPY

Khóa 1 năm 6 tháng

Tiền nhập học

60.000 JPY

-

60.000 JPY

Tiền học phí

600.000 JPY

300.000 JPY

900.000 JPY

Các khoản khác

80.000 JPY

-

80.000 JPY

Tổng

740.000 JPY

300.000 JPY

1.040.000 JPY

 

 

4.3.  Học bổng

Học bổng MEXT do chính phủ Nhật cấp

Hàng năm, Chính phủ Nhật bản đều cấp học bổng cho các sinh viên ưu tú của Việt Nam để sang Nhật Bản học tập. Đây là một cơ hội rất lớn đối

với các bạn trẻ.

Các du học sinh được tiếp nhận học bổng này sẽ được chính phủ Nhật Bản cung cấp kinh phí sinh hoạt, học phí tại trường học và vé máy bay hai chiều giữa Việt Nam và Nhật Bản.

Việc tiến cử học bổng của chính phủ Nhật Bản (MEXT) theo hai cách thức:

Do Đại sứ quán Nhật Bản tiến cử.

Do các trường đại học tiến cử.

 

Chương trình học bổng đào tạo nguồn nhân lực (Chương trình JDS) – Japanese Graint Aid for Human Resource Development Scholarship

Là chương trình được thực hiện theo nguồn viện trợ không hoàn lại (ODA) của chính phủ Nhật Bản. Các lĩnh vực tiếp nhận du học sinh là Hành chính - chính sách công, Quan hệ quốc tế, Luật pháp, Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Công nghệ thông tin, Môi trường, v.v… Thông báo tuyển sinh của chương trình học bổng này sẽ được đăng trên báo và internet vào khoảng tháng 7 hàng năm. Những thí sinh có nguyện vọng đăng ký đề nghị liên lạc với văn phòng JICE (văn phòng dự án JDS tại Việt Nam). Việc tuyển chọn du học sinh sẽ do đại sứ quán Nhật Bản và chính phủ Việt Nam phối hợp tiến hành.

 

Học bổng khuyến khích học tập cho các du học sinh nước ngoài thuộc diện du học tự túc học tại Nhật Bản

Là học bổng do tổ chức hỗ trợ học sinh sinh viên Nhật Bản (JASSO) cấp. Số tiền học bổng là 50.000 Yên Nhật (khoảng 10.000.000 đồng Việt Nam) ở cấp bậc đại học và 70.000 Yên Nhật (khoảng 14.000.000 đồng Việt Nam) ở cấp bậc cao học cho mỗi tháng.


Học bổng của các tổ chức tư nhân

Ở Nhật có khoảng 160 tổ chức tư nhân cấp học bổng cho các du học sinh. Bình quân số tiền học bổng hàng tháng của các tổ chức này là khoảng 73.800 Yên Nhật (khoảng 14.760.000 đồng Việt Nam). Ngoài học bổng này ra còn có các loại học bổng của chính quyền địa phương (các tỉnh, thành phố). Trong số các học bổng, có loại dù số lượng không nhiều nhưng bạn có thể nộp đơn xin học bổng từ Việt Nam trước khi sang Nhật, nếu được một trường đại học ở Nhật đồng ý tiếp nhận thì bạn sẽ được cấp học bổng. Chi tiết học bổng này xin liên hệ với Trung tâm thông tin du học của JASSO. Tại các trường Nhật ngữ, hàng năm đều có một số suất học bổng dành cho các sinh viên có thành tích học tập xuất sắc, học bổng này khoảng 70,000 Yên/tháng (khoảng 17.500.000 đồng Việt Nam).

 

4.4. Chi phí sinh hoạt

Chi phí sinh hoạt tại các thành phố lớn như Tokyo, Osaka là rất cao trong khi tại các địa phương có thể thấp hơn và cuộc sống cũng thoải mái hơn. Tiền thuê phòng (20-30 mét vuông) có giá xê dịch từ 30.000 - 40.000 JPY/tháng. Ở những khu vực như Tokyo giá có thể tăng cao hơn. Sinh viên Việt Nam thường ghép phòng chung để giảm chi phí sinh hoạt. Một số trường đã có sẵn ký túc xá (KTX) và tiền KTX sẽ được trả cùng tiền học phí cho trường trước khi đến Nhật.


Tiền ăn uống, thường do sinh viên tự nấu cho hợp khẩu vị, nhưng một số trường cũng có nhà ăn cho sinh viên. Tiền chi phí trung bình khoảng 20,000
JPY/tháng. Các đồ nấu Việt Nam phần lớn có thể tìm thấy tại siêu thị Nhật hoặc ở một số cửa hàng bán đồ Việt  Nam.

 

Khóa 2 năm

Các khoản phí

Năm đầu tiên

Năm tiếp theo

Tiến ký túc xá (năm)

400.000 - 600.000 JPY

400.000 - 600.000 JPY

Tiền sinh hoạt phí (tháng)

30.000 yên - 50.000 JPY

30.000 - 50.000 J

Khóa 1 năm 6 tháng

Tiến ký túc xá (năm)

400.000 - 600.000 JPY

200.000 - 300.000 JPY

Tiền sinh hoạt phí (tháng)

30.000 - 50.000 JPY

30.000 - 50.000 JPY



Chú ý:

Tiền kí túc xá : bao gồm tiền thuê nhà hàng tháng, tiền điện, nước, gas để phục vụ cuộc sống của học viên. Số tiền này sẽ được cho vào tài khoản ngân hàng của học viên. Tùy vào mức độ sử dụng của học viên mà sẽ trừ dần vào số tiền ban đầu đóng góp. Nếu còn dư sẽ được chuyển sang năm tiếp theo.

Phí sinh hoạt: Số tiền này sẽ do các em mang theo khi sang Nhật để chi trả cho cuộc sống hàng ngày. Tùy vào thành phố mà tiền phí sinh hoạt có những giao động khác nhau.

 

 

5. Thủ tục du hoc

5.1. Lịch đăng ký hồ sơ

Thông thường các khoá học một năm và hai năm bắt đầu vào tháng 4. Các khoá 18 tháng thì chỉ bắt đầu vào tháng 10 đến tháng 12 năm trước đó. Đối với các khoá học tháng 10 hạn nộp hồ sẽ trong khoảng tháng Tư đến tháng Sáu. Ngoài ra một số ít trường còn có khoá học bắt đầu từ tháng Bảy đến tháng Một.

Bạn nên bắt đầu chú ý ít nhất từ sáu đến tám tháng trước khi khoá học bắt đầu, vì người nộp hồ sơ hoàn chỉnh trước khi nhập học, đồng thời

phải tính cả thời gian cần thiết để gửi qua bưu điện…


 

5.2. Visa sinh viên

Visa sẽ quyết định tư cách và loại hoạt động người nước ngoài được phép thực hiện khi ở Nhật Bản. Có 27 loại Visa khác nhau.

 

Du học sinh khi vào Nhật Bản để học đại học, cao đẳng, trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ, trung học chuyên nghiệp hay học dự bị tiếng Nhật ở một đại học dân lập hay cao đẳng sẽ được cấp visa loại “Du học”, được phép ở Nhật một hay hai năm.Du học sinh vẫn có tên ở đại học trongnước mình nhưng đến Nhật Bản để học khoá ngắn hạn dưới một năm tại một đại học Nhật Bản, cũng được cấp visa “Du học”.

Du học sinh đến Nhật Bản để học tiếng Nhật,tại các trường không thuộc khoá dự bị tiếng Nhật của đại học dân lập, sẽ có visa “Đi học (shugaku-sei)” thời hạn 6 tháng, một hoặc hai năm.Nếu du học sinh trong thời gian học tiếng Nhật được nhận vào học Đại học hay trung cấp kỹ thuật nghiệp vụ, có thể đổi visa từ loại “Đi học” thành loại “Du học”.


Có hai cách xin visa:


(1) Xin visa khi không có giấy chứng nhận đủ tư cách tạm trú. Theo cách này du học sinh xin visa tại một Đại sứ quán hay Lãnh sự quán nằm ngoài lãnh thổ Nhật Bản nên không có giấy chứng nhận đủ tư cách tạm trú. Cách làm này mất nhiều thời gian vì hồ sơ xin visa phải gửi đi gửi lại giữa hai nước cũng như trong nội địa Nhật Bản.


(2) Xin visa khi có giấy chứng nhận đủ tư cách tạm trú nếu có đại diện chẳng hạn như người bảo lãnh hay một trường nào đó thì du học sinh có thể được Cục Quản lý XNC Nhật Bản cấp giấy “chứng nhận đủ tư cách tạm trú”. Sau đó mới làm đơn xin visa. Cách này nói chung nhanh và dễ dàng hơn so với cách thứ nhất.


 

6. Địa chỉ hữu ích

 

Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam:   

27 Phố Liễu Giai, Hà Nội.

Tel: (04) 3846 3000

Email: soumuhan@vnn.vn

 

Lãnh sự quán Nhật Bản tại Việt Nam:

13-17 Nguyễn Huệ, quận 1, Tp.HCM.

Tel: (08) 3 822 5314

Email: ryoujikan@vietnam-japan.net

 

 

7. Phỏng vấn du học sinh